Cửa sông Tô Lịch xưa ở chỗ nào?

Xưa toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ là vịnh biển nông. Ở khu vực quanh Hà Nội độ sâu của Vịnh vào khoảng 20m. Sau nhiều năm phù sa sông Hồng đã bồi lấp vịnh để thành đồng bằng. Vậy là mọi con sông bắt nguồn từ sông Hồng đều là dòng chảy xưa của nó.

Theo ước tính mỗi năm đáy sông bị phù sa bồi lấp 1mm. Như thế tuổi của mọi con sông nhận nước từ sông Hồng đều không quá 2000 năm. Như thế sông Tô Lịch xưa là rất lớn, và nó đã bị phù sa sông Hồng làm cho nhỏ lại và bị cạn.

Các con sông lớn đều có người chết đuối, nhất là các cửa sông, nơi dòng chảy rất mạnh. Người dân sau khi chôn cất thì hương khói, bởi họ suy nghĩ tới những hồn ma không nương tựa. Đó là những đặc điểm tạo ra văn hóa tâm linh. Theo thời gian nhiều trăm năm không ai còn nhớ rõ các miếu thờ ai, người dân theo thói quen hương khói và họ bắt đầu thờ các thần sông thần núi.

Do bị các dãy núi cao bao quanh, cư dân Bắc Bộ giao thương với thế giới bên ngoài chủ yếu thông qua đường Biển. Vào đầu Công Nguyên, Phật giáo nguyên thủy truyền bá vào nước ta. Các tu sĩ lấy các Miếu là chốn tu hành. Các Miếu hóa thành Chùa. Vào đầu thế kỷ thứ 10, cùng với việc chính thức sử dụng chữ Hán, và nhu cầu củng cố quyền lực mà đạo Lão đã thâm nhập vào đồng bằng Bắc Bộ. Các chùa xưa bị các đạo sĩ chiếm đoạt và chuyển thành Chùa Quán. Dọc theo sông Tô Lịch có các chùa quán Lão Giáo như Chùa Quán La, đền Quán Thánh, đền Bạch Mã.

Sau thế kỷ 15 do tính chất mỵ dân và lừa đảo mà Lão bị cấm, thay thế bằng Nho Giáo. Các Chùa Quán cổ bị bỏ hoang và người dân lại đến thờ cúng tạo ra làn sóng Phật giáo với các chùa chiền.

Như vậy để xác định được cửa sông Tô Lịch xưa chúng ta bám vào các bản đồ cổ, vị trí các đền miếu, các chùa quán, và tên các địa danh còn sót lại.

Các yếu tố nói trên phần nhiều mang tính ngẫu hứng và không thật sự chính xác. Vậy quan trọng nhất là phải dựa vào được các yếu tố khách quan mang tính quy luật. Để xác định cửa sông Tô Lịch chảy ra sông Hồng, chúng ta đưa ra giả thuyết sau:

“Đây là con sông có vị trí quan trọng trong việc giao thương buôn bán, và vì thế mà hai bên bờ sông có đường đi. Cư dân sống cạnh sông họ sẽ làm nhà hướng về phía đường đi, và khi sông cạn dần nhà đất của họ cũng vì thế mà dài dần ra. Do là nhà đất riêng, nên dù cho có thay đổi chủ hay làm nhà mới, không ai có thể thay đổi hướng chung của tất cả các thửa đất làm nhà. Như thế chiều dọc của các nhà sẽ là “vector Nhà” chỉ hướng từ bờ ra phía sông”.

Chúng ta có thể nhận thấy trên bản đồ 1490 đền Bạch Mã nằm bên bờ phải của sông Tô Lịch. Trên bản đồ Google chúng ta có thể nhận ra khu vực có các vector Nhà chỉ phương hướng ra mặt sông đó là hai phố Chợ Gạo và Hàng Buồm. Đó chính là cửa sông Tô Lịch vào thời kỳ khi buôn bán đã phát triển mạnh, ước tính sau khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long.

Độ rộng của sông ước tính khoảng 80m, khoảng rộng cửa sông là khoảng 100m. Độ cong của cửa sông dọc theo phố Hàng Buồm tới phố Mã Mây cho thấy tốc độ dòng nước chảy ra từ sông Tô Lịch vào sông Hồng là không hề nhỏ.

Vào thế kỷ 10, sông Tô Lịch chỗ Chợ Gạo rộng 80m. Sông Tô Lịch chảy từ Bưởi theo phố Đồng Cổ tới gò Ba Đình thì tách ra một nhánh chảy qua chợ Ngọc Hà. Nhánh sông này chảy qua Bích Câu đạo Quán và Văn Miếu Quốc Tử Giám rồi chảy về phía Nam ra khu đầm hồ Thanh Nhàn, Yên Sở. Như vậy sông Tô Lịch chảy ở khu vực chợ Bưởi là gộp cả nước của sông chảy về Chợ Gạo và chảy qua chợ Ngọc Hà. Coi như lượng nước của cả hai nhánh này bằng nhau, thì sông Tô Lịch chảy theo Đồng Cổ rộng khoảng 120m. Nó tương ứng với khoảng cách từ đường Thụy Khuê tới đê Hoàng Hoa Thám. Như vậy, vào đầu Công Nguyên, Hồ Tây không phải là một cái hồ, bởi không thể có một con sông lớn chảy quanh bờ một cái hồ. Hồ Tây trên thực tế là một vùng đất bị lún dần mà thành.

Sông Tô Lịch là phần còn lại của sông Thiên Phù. Sông Thiên Phù chảy tới Bưởi thì bị chia thành hai nhánh, một nhánh chảy vào Đồng Cổ, một nhánh chảy về Láng. Nhánh sông Tô Lịch Láng sở dĩ vẫn còn tới ngày nay là do nó được nạo vét lấy đất đắp đường đê Láng. Ngày nay sông Tô Lịch nhánh Láng cũng rộng khoảng 120m. Như thế khi xưa sông Thiên Phù rộng khoảng 180m. Vào đầu thế kỷ 18 sông Thiên Phù đã cạn hẳn, chỉ để lại dấu vết của nó là chuỗi các chùa như chùa Khai Nguyên, Tảo Sách, Thiên Niên, Vạn Niên,.. Khi xưa do đi lại bằng thuyền mà cửa chính của chùa luôn hướng về phía sông. Và vì thế mà sông Thiên Phù xưa chảy dọc theo đường Lạc long Quân. Một bên bờ sông Thiên Phù chính là các chùa Tảo Sách, Thiên Niên, Vạn Niên. Bờ còn lại ở xa khoảng gần 200m. Phía sau của Chùa là bãi tha ma. Đó là nguyên nhân vì sao có nhiều mộ nổi giữa hồ Tây.

Vào thời Lý Bí, năm 543, phần lớn Hà Nội nay là đầm lầy. Nơi cao nhất khu vực là Xuân La, Xuân Đỉnh. Kinh Đô của nhà nước Vạn Xuân là ở cửa sông Tô Lịch, tức là nơi cao nhất vùng Xuân La Xuân Đỉnh. Đó chính là khu vực Đình Quán La.

Ngày nay các chùa Tảo Sách, Thiên Niên, Vạn Niên làm cổng mới, cho Phật quay hết cả ra phía bãi tha ma Hồ Tây, quay đít về phía Lạc Long Quân. Âu thì Phật cũng phải chăm chỉ mà kiếm tiền để cho sư còn sài.

Viết một bình luận